Phòng và điều trị một số bệnh thường gặp ở cá nuôi
16:1' 21/9/2016

Để chủ động trị một số bệnh thường gặp trong nuôi thủy sản đảm bảo an toàn, hiệu quả Chi cục Thủy sản tỉnh Phú Thọ hướng dẫn người nuôi thực hiện  phác đồ điều trị cụ thể như sau:

1. Bệnh nhiễm khuẩn do Streptococcus sp (liên cầu khuẩn) ở cá.

- Tác nhân gây bệnh: liên cầu khuẩn Strepcoccus. sp gây nên.

- Triệu chứng: mắt cá lồi, bơi lờ đờ hoặc bơi quay tròn mất định hướng đâm xuống đáy ao, lồng nuôi rồi chết. Khi mổ cá bệnh thường thấy hiện tượng tích khí ở ruột, ruột không chứa thức ăn do cá bỏ ăn, ruột xuất huyết, gan tụ máu, có thể còn thấy xuất huyết dưới da bụng.


Cá diêu hồng bị bệnh Streptococcus sp


* Sự phân bố và lan truyền của bệnh:

Dịch bệnh thường xảy ra khi cá nuôi tiếp xúc với sự căng thẳng (stress) như nhiệt độ nước tăng, lượng oxy trong nước thấp dưới mức cho phép hoặc cá bị nuôi với mật độ cao trong thời gian dài.

Về mặt lý thuyết thì bệnh lây nhiễm cho cá ở mọi lứa tuổi, kích cỡ. Tuy nhiên cá có kích thước lớn (từ 100g đến cỡ thương phẩm) dễ bị mắc bệnh hơn cả.

Bệnh ở giai đoạn cấp tính với đỉnh điểm tử vong trong khoảng từ 2-3 tuần khi nhiệt độ nước cao. Tuy nhiên bệnh cũng có thể ở giai đoạn mãn tính khi nhiệt độ nước thấp có thể làm giảm thấp tỷ lệ chết.

Bệnh lây lan theo chiều ngang từ cá với cá (cá khoẻ ăn cá bị bệnh, ăn thịt lẫn nhau, do vết thương trên da...) và cũng có thể lây truyền từ môi trường đến cá.

* Phòng trị bệnh

- Diệt mầm bệnh trong môi trường nước:  

Sử dụng Iodine với liều 1lít/6.000 - 8.000m3 nước hoặc Benzalnium Chloride theo liều 1lít/3.000m3 nước. Vệ sinh lồng lưới sạch sẽ, treo vôi vào lồng với lượng 20kg/100m3 nước (treo ở đầu dòng nước chảy).

- Dùng thuốc kháng sinh:

+ Buổi sáng: trộn Sulfamids vào thức ăn với liều 100g/1tấn cá/ngày.

+ Buổi chiều: trộn Amoxcillin  hoặc Florfenicol vào thức ăn với liều 100g/1tấn cá/ngày. Cho ăn liên tục 5-7 ngày.

+ Các ngày tiếp theo lượng thuốc cho cá ăn bằng 1/2 so với ngày đầu (Lượng thức ăn sử dụng điều trị bệnh bằng 1/3 so với khi cá khỏe).

+ Sau khi cho ăn kháng sinh thì hàng ngày bổ sung men tiêu hóa và thuốc bổ gan, thận vào thức ăn với lượng 15g/100kg cá/ngày.

2. Bệnh viêm ruột (đốm đỏ) do vi khuẩn Aeromonas

- Tác nhân gây bệnh: Aeromonas hydrophila, Aeromonas ssp, pseudomonas sp.

- Triệu chứng

+ Dấu hiệu bên ngoài: cá kém ăn hoặc bỏ ăn, nổi lờ đờ trên tầng mặt. Hậu môn viêm đỏ lồi ra ngoài. Các đốm xuất huyết màu đỏ xuất hiện trên thân, các gốc vây. Bụng chướng to.

+ Dấu hiệu bên trong: Xoang bụng xuất huyết, mật màu sắc đen xẫm. Ruột chứa đầy hơi và hoại tử. Xoang bụng chứa đầy hơi, dịch nhờn mùi hôi thối..

- Đối tượng nhiễm bệnh và lan truyền

+ Các loài cá nuôi lồng, bè và nuôi ao nước ngọt thường gặp bệnh đốm đỏ như Cá Lăng, Trắm cỏ, Chép, Rô Phi, Diêu hồng, Nheo,...

+ Cá bị bệnh thường có tỷ lệ chết từ 30-70%, riêng ở giai đoạn cá giống tỷ lệ chết có thể đạt 100%.

+ Bệnh đốm đỏ ở cá thường tập trung vào mùa xuân và mùa thu ở miền Bắc và mùa mư ở miền Nam.

* Phòng và trị bệnh

- Diệt mầm bệnh trong môi trường nước: Sử dụng Iodine với liều 1lít/6.000 - 8.000m3 nước hoặc Benzalnium Chloride theo liều 1lít/3.000m3 nước. Vệ sinh lồng lưới sạch sẽ, treo vôi vào lồng với lượng 20kg/100m3 nước (treo ở đầu dòng nước chảy).



Cá lăng bị bệnh do vi khuẩn Aeromonas


Cá trắm cỏ bị bệnh do vi khuẩn Aeromonas                                                      Cá rô phi bị bệnh do vi khuẩnAeromonas

- Dùng thuốc kháng sinh:

+ Buổi sáng: trộn Sulfamids vào thức ăn với liều 100g/1tấn cá/ngày.

+ Buổi chiều: trộn Gentamycin hoặc Florfenicol vào thức ăn với liều 100g/1tấn cá/ngày. Cho ăn liên tục 5-7 ngày.

Các ngày tiếp theo lượng thuốc cho cá ăn bằng 1/2 so với ngày đầu (Lượng thức ăn sử dụng điều trị bệnh bằng 1/3 so với khi cá khỏe).

Sau khi cho ăn kháng sinh thì hàng ngày bổ sung men tiêu hóa và thuốc bổ gan, thận vào thức ăn với lượng 15g/100kg cá/ngày.

3. Bệnh gan, thận có mủ do vi khuẩn Edwardsiella.

- Tác nhân gây bệnh: vi khuẩn Edwardsiella. Sp 

- Triệu chứng: Cá bơi lờ đờ, màu sắc nhợt nhạt, xuất huyết trên cơ thể, đặc biệt khi mổ cá bệnh thấy trên gan, thận có lốm đốm trắng và bị sơ, thận bị teo nhỏ lại.


Cá lăng bị bệnh gan, thận có mủ


- Đối tượng nhiễm bệnh và lan truyền

+ Bệnh Gan thận có mủ ở cá thường sảy ra nhiều vào mùa xuân và mùa thu ở miền Bắc và mùa mưa lũ kéo dài đến mùa khô ở miền Nam.

+ Vi khuẩn Edwardsiella. Sp có thể xâm nhập vào cơ thể cá từ môi trường nước qua da, qua mang và qua miệng bằng đường thức ăn gây bệnh gan, thận có mủ cho cá.

* Phòng trị bệnh

- Diệt mầm bệnh trong môi trường nước: Sử dụng Iodine với liều 1lít/6.000 - 8.000m3 nước hoặc Benzalnium Chloride theo liều 1lít/3.000m3 nước. Vệ sinh lồng lưới sạch sẽ, treo vôi vào lồng với lượng 20kg/100m3 nước (treo ở đầu dòng nước chảy).

- Dùng thuốc kháng sinh:

+ Sử dụng kháng sinh Florfenicol  hoặc Doxycycline với lượng 01 ngày đầu cho cá ăn 10g thuốc/100kg cá.

+ Các ngày tiếp theo lượng thuốc cho cá ăn bằng 1/2 so với ngày đầu (Lượng thức ăn sử dụng điều trị bệnh bằng 1/3 so với khi cá khỏe). Cho ăn liên tục 5-7 ngày.

+ Đối với cá Lăng sau khi cho cá ăn kháng sinh thì cho cá ăn thuốc xổ giun sán Praziquantel với lượng 100g/100kg cá sử dụng 01 lần/tháng. 

+ Sau khi cho ăn kháng sinh thì hàng ngày bổ sung men tiêu hóa và thuốc bổ gan, thận vào thức ăn với lượng 15g/100kg cá/ngày.

                        Đinh Văn Huấn - Chi cục Thủy sản Phú Thọ