Phát triển làng nghề giúp nông thôn đổi mới
10:41' 19/12/2016

Làng nghề là một hình thức sản xuất đặc thù khu vực nông thôn, chịu sự chi phối, ràng buộc với vùng nguyên liệu, tập quán công nghệ trong sản xuất, các quan hệ xã hội và truyền thống lâu đời của địa phương. Làng nghề không chỉ góp phần tạo việc làm lúc nông nhàn, tăng thu nhập cho người dân mà còn tạo những dấu ấn, bản sắc văn hóa cho mỗi làng quê thông qua các sản phẩm từ nghề được truyền từ đời này sang đời khác, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới của các địa phương.

Đến nay, toàn tỉnh đã có 72 làng nghề nông thôn được UBND tỉnh công nhận, thu hút khoảng trên 33.000 lao động. Hoạt động các làng nghề gồm có 4 nhóm chính đó là: Nhóm làng nghề chế biến nông, lâm sản có 41 làng nghề; Nhóm làng nghề thủ công mỹ nghệ, dệt may, đồ gỗ, mây tre đan có 20 làng nghề; Nhóm làng nghề vật liệu xây dựng có 2 làng nghề; Nhóm làng nghề sinh vật cảnh có 9 làng nghề. Các làng nghề sau khi được công nhận đều duy trì và phát triển tương đối ổn định, một số làng nghề có tiềm năng phát triển mạnh, có giá trị thu nhập cao, tạo việc làm thường xuyên cho nhiều lao động ở nông thôn, nhất là lao động trong thời gian nông nhàn. Một số sản phẩm làng nghề có mẫu mã, chất lượng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, góp phần phát triển ngành dịch vụ du lịch và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của tỉnh, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn góp phần xây dựng nông thôn mới.

Trong thời gian qua, việc xây dựng và phát triển làng nghề nông thôn luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh, các cấp, các ngành, trong đó ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thường xuyên kiểm tra, rà soát, đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của các làng nghề; Hỗ trợ một số máy móc thiết bị, công cụ sản xuất thiết yếu cho làng nghề hoạt động và phát triển; Giới thiệu các sản phẩm làng nghề đặc trưng của tỉnh thông qua các Hội chợ, lễ hội trong và ngoài tỉnh. Các hoạt động phát triển ngành nghề, làng nghề đã được UBND các huyện, thành, thị cụ thể hóa trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ, xác định rõ tầm quan trọng của việc phát triển và bảo tồn ngành nghề, làng có nghề gắn với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhờ có các làng nghề, đầu ra cho sản phẩm của các hộ dân được đảm bảo hơn, có nguồn thu ổn định hơn, góp phần không nhỏ trong việc tăng thu nhập, cải thiện nâng cao đời sống cho người dân. Quá trình xây dựng và phát triển làng nghề trong những năm qua đã góp phần nâng cao đời sống cho người dân nông thôn, đóng góp không nhỏ trong việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Nhờ có làng nghề, người dân đã có thu nhập ổn định bên cạnh làm nông nghiệp thuần tuý, nhiều làng nghề đã mang lại thu nhập cho người lao động vài chục triệu đồng/năm; Chủ cơ sở sản xuất hàng trăm triệu đồng/năm như nhóm nghề mộc (Làng nghề mộc Vân Du, huyện Đoan Hùng; Làng nghề mộc Việt Tiến, huyện Lâm Thao; Làng nghề mộc Dư Ba, huyện Cẩm Khê); Nhóm nghề chế biến lâm sản (Làng nghề chế biến lâm sản Ấm Hạ, huyện Hạ Hòa); Nhóm nghề sinh vật cảnh (Làng nghề cá chép đỏ Thủy Trầm, huyện Cẩm Khê; Làng nghề hoa đào ở thị xã Phú Thọ, thành phố Việt Trì)...

Bên cạnh việc nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân nông thôn thì nhờ có làng nghề, cơ sở hạ tầng nông thôn ở nhiều nơi từng bước được cải thiện, giao thông được nâng cấp, hệ thống lưới điện được cải tạo; Nhiều thiết chế văn hoá được nâng cao, tình hình an ninh chính trị được đảm bảo. Các chương trình an sinh xã hội, chương trình mục tiêu nhằm nâng cao đời sống cho người dân có chung sự đồng thuận, đồng lòng nên trong quá trình triển khai thực hiện đạt được kết quả như mong đợi.

Mặc dù đã có bước phát triển nhưng đến nay hoạt động của các làng nghề trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, một số làng nghề hoạt đồng cầm chừng, thiếu bền vững; Quy mô sản xuất của các làng nghề nhỏ, manh mún, nguồn vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh ít, khả năng huy động vốn hạn chế; Nhiều sản phẩm chưa có nhãn hiệu hàng hóa, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, thị trường tiêu thụ sản phẩm hẹp, chủ yếu vẫn là thị trường nội địa; Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn ở các làng nghề còn hạn chế, hạ tầng làng nghề một số nơi còn chưa được đầu tư đồng bộ.

Để đảm bảo cho các làng nghề có sự phát triển ổn định, bền vững, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thì cần có các chính sách cụ thể, các giải pháp đồng bộ: Phải thường xuyên tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành nghề nông thôn bằng nhiều hình thức trên các phương tiện thông tin đại chúng để các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong làng nghề biết và thực hiện; Ưu tiên phát triển các nguồn nguyên liệu có thế mạnh của tỉnh như nguyên liệu họ tre (giang, nứa, luồng...), nguyên liệu mây, nguyên liệu gỗ, nguyên liệu chè... để phát triển các làng nghề nông thôn. Khai thác, tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương và sử dụng hợp lý, có hiệu quả; Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các sản phẩm làng nghề, nhất là các sản phẩm đặc thù tham gia các hoạt động trưng bày, giới thiệu sản phẩm thuộc các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm. Gắn kết hoạt động sản xuất làng nghề với chương trình phát triển du lịch của tỉnh, hình thành tuyến du lịch làng nghề tạo điều kiện cho khách du lịch tiếp cận hoạt động sản xuất và bản sắc văn hoá dân tộc của làng nghề. Chú trọng và thực hiện thường xuyên việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đổi mới chương trình đào tạo nghề phù hợp với ngành nghề và lứa tuổi lao động, gắn việc học lý thuyết với thực hành là chính. Tăng cường đào tạo kiến thức về kỹ thuật và thiết kế sản phẩm cho thợ thủ công, tổ chức các hoạt động hỗ trợ thiết kế cho các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Đối với làng nghề có biện pháp khuyến khích các nghệ nhân, thợ giỏi trong và ngoài tỉnh kèm cặp, bồi dưỡng, truyền nghề cho lực lượng lao động trẻ thông qua các lớp đào tạo, tập huấn. Phát huy tối đa nội lực của nhân dân địa phương và các thành phần kinh tế, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn như: Vốn nhàn rỗi trong dân, vốn tín dụng, vốn hỗ trợ của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác. Tuyên truyền, vận động các cơ sở sản xuất thuộc làng nghề tăng nguồn vốn đầu tư nhằm mở rộng sản xuất, ứng dụng công nghệ mới cho phát triển sản xuất; Khuyến khích hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đẩy mạnh cho vay đầu tư phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, triển khai thực hiện có kết quả chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ.

Cùng với sự hỗ trợ, tạo điều kiện về công tác quản lý nhà nước của các cấp, các ngành thì bản thân các làng nghề cũng cần phải có sự đổi mới, năng động, sáng tạo trong cơ chế thị trường, có sự điều tiết trong khâu sản xuất đảm bảo việc cung ứng hàng hoá theo nhu cầu của thị trường. Không chỉ vậy, các làng nghề cần quan tâm đến việc xây dựng, giữ vững thương hiệu, đảm bảo uy tín lâu dài, quan tâm đến việc thực hiện tốt các quy định về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có những giải pháp hiệu quả xử lý dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường,… thông qua việc xây dựng hương ước, quy chế hoạt động của làng nghề, tích cực truyên truyền mở rộng các hộ tham gia hoạt động sản xuất và đẩy mạnh trao đổi học tập kinh nghiệm, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất để nâng cao chất lượng, giá trị, tăng thu nhập các hộ trong làng nghề. Chỉ như vậy các làng nghề mới có thể phát triển bền vững, lâu dài, giúp người dân làng nghề sống và làm giàu từ nghề trên chính mảnh đất quê hương của mình./.

Vũ Quốc Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục PTNT Phú Thọ