Tổng kết nhiệm vụ công tác năm 2017 và Triển khai kế hoạch năm 2018.
8:17' 5/2/2018

I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ  NĂM 2017.

Triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới năm 2017 trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện có nhiều khó khăn: Mưa lớn kéo dài cùng với xả lũ của các hồ thủy điện; giá thịt lợn hơi xuống thấp dưới mức giá thành sản xuất; tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát, gây hại; nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế

Tuy nhiên, được sự quan tâm của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT, các bộ ngành ở Trung ương; đăc biệt là sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh cùng sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy đảng chính quyền từ tỉnh đến cơ sở và sự cố gắng vượt khó của các Doanh nghiệp và  người dân. Toàn ngành đã chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành vượt qua khó khăn, thách thức để hoàn thành các mục tiêu đề ra.

Giá trị tăng thêm nông lâm nghiệp, thủy sản đạt 7.379,8 tỷ đồng, tăng 3,74% so với năm 2016 (Kế hoạch tăng 3,7%)[1]; chiếm 23% cơ cấu kinh tế chung toàn tỉnh. Hầu hết các chỉ tiêu đều đạt và vượt kế hoạch; kết quả đạt được khá toàn diện, cụ thể như sau:

1. Thực hiện cơ cấu lại sản xuất trên các lĩnh vực.

a) Trồng trọt: Tổ chức triển khai sản xuất đảm bảo kế hoạch, khung lịch thời vụ; chú trọng phát triển cây trồng chủ lực: lúa chất lượng cao, chè, cây bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn. Cơ cấu cây trồng có sự biến động theo hướng giảm diện tích lúa (giảm 594 ha), mở rộng diện tích gieo trồng rau các loại (tăng 382 ha); năng suất cây trồng tăng khá so với năm 2016, giá trị tăng thêm tăng 1,7%:

- Cây lương thực có hạt: Diện tích 85,34 nghìn ha; sản lượng 454,8 nghìn tấn, đạt 98,4% KH, giảm 1,2% so với năm 2016. Tăng nhanh diện tích sản xuất các giống chất lượng cao đạt 18,1 nghìn ha, tăng 4,2 nghìn ha so với năm 2016 (trong đó có 3,16 nghìn ha đạt quy mô liền vùng từ 10 ha trở lên) và tiếp tục có xu hướng mở rộng trong thời gian tới, đặc biệt là các giống nhóm Japonica; duy trì tỷ lệ lúa lai chiếm 49,1%, tỷ lệ ngô lai chiếm 98% tổng diện tích gieo trồng.

- Rau các loại: Diện tích 13,7 nghìn ha, năng suất 146,7 tạ/ha, tăng 1,1% so với cùng kỳ; Sản lượng 201 nghìn tấn, tăng 4% so với cùng kỳ.

-  Cây chè: Diện tích chè hiện có 16,1 nghìn ha, trồng mới; năng suất chè tăng cao, đạt 109,4 tạ/ha. Sản lượng chè búp tươi 170 nghìn tấn đạt 105,5% kế hoạch, tăng 4,8% so với năm 2016; cơ cấu sản phẩm chế biến có sự thay đổi theo chiều hướng tăng sản phẩm chè xanh (chiếm khoảng 30%), bước đầu hình thành các vùng sản xuất chè xanh tập trung (Võ Miếu - Thanh Sơn, Yên Kỳ - Hạ Hòa,...).

- Cây ăn quả: Tiếp tục mở rộng diện tích trồng mới bưởi đặc sản Đoan Hùng (100 ha), bưởi Diễn (652 ha); đến nay diện tích bưởi Đoan Hùng 1.256 ha; diện tích bưởi Diễn 2.091 ha. Sản lượng bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn 19,6 nghìn tấn, đạt 115% KH, tăng 23,7% so với năm 2016. Một số mô hình trồng cây ăn quả tập trung ứng dụng công nghệ cao bước đầu hình thành, cho hiệu quả kinh tế cao; giữ ổn định 380 ha chuối phấn vàng tập trung, mở rộng diện tích trồng chuối hàng hóa thông qua hình thức thuê đất.

b. Chăn nuôi: Tổ chức sản xuất chăn nuôi theo hướng phát triển trang trại tập trung, công nghệ cao, đồng bộ, theo chuỗi giá trị. Năm 2017, do thị trường tiêu thụ thịt lợn của cả nước gặp nhiều khó khăn, giá xuống thấp kéo dài nên quy mô đàn lợn giảm, tuy nhiên đàn gia cầm, đàn bò tăng khá[2]. Sản lượng thịt hơi 168,5 tấn, đạt 108,6% KH, tăng 10% so với năm 2016, sản lượng trứng gia cầm đạt trên 200 triệu quả (trong đó công ty ĐTK sản xuất 30 triệu quả). Giá trị tăng thêm tăng 3,9%.

 c. Thuỷ sản: Đã kịp thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ thiệt hại cho người sản xuất bị thiệt hại do ảnh hưởng của thiên tai[3]. Diện tích nuôi thủy sản 10,1 nghìn ha, đạt 100% KH, trong đó diện tích chuyên nuôi đạt 5.350 ha (nuôi thâm canh đạt 1.700 ha, nuôi bán thâm canh 3.650 ha); nuôi cá lồng trên sông và hồ chứa với 1.213 lồng (giảm 96 lồng so với năm 2016); tỷ lệ giống thủy sản đặc sản, cá giống mới đưa vào nuôi thả chiếm 38,5%. Sản lượng thủy sản 34,4 nghìn tấn, đạt 98,2% KH, tăng 5,3% so với năm 2016. Giá trị tăng thêm tăng 7,1%.

d. Lâm nghiệp: Diện tích trồng rừng tập trung 9,7 nghìn ha, đạt 100,3% kế hoạch, tăng 7,1% so với năm 2016; trồng cây phân tán 942 nghìn cây; tỷ lệ độ che phủ rừng 39,4%, đạt 100% kế hoạch. Chú trọng phát triển rừng thâm canh, trồng rừng gỗ lớn 294,2 ha, chuyển hóa rừng gỗ lớn 458,3 ha, trồng cây dược liệu dưới tán rừng 36,1ha. Sản lượng gỗ khai thác cả năm đạt 575 nghìn m3, tăng 10,8% so với năm 2016. Giá trị tăng thêm tăng 10,1%.

2. Xây dựng nông thôn mới :Xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ đến cơ sở và đạt được những kết quả quan trọng. Trên cơ sở Bộ tiêu chí xã, khu dân cư nông thôn mới tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016-2020 đã được ban hành, các địa phương đã tập trung rà soát, xây dựng kế hoạch thực hiện khu dân cư nông thôn mới và nâng cao, hoàn thành các tiêu chí xã đạt chuẩn NTM. Chú trọng huy động, lồng ghép các nguồn lực để xây dựng nông thôn mới. Đến hết năm 2017 toàn tỉnh có thêm 20 xã đạt chuẩn nông thôn mới (vượt KH đề ra 11 xã)[4]. Tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh  đạt 95%.

3. Đầu tư xây dựng hạ tầng nông nghiệp, nông thôn

Năm 2017, Sở Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo triển khai thực hiện 42 công trình, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn. Tập trung thực hiện tốt công tác chuẩn bị đầu tư; đã trình thẩm định phê duyệt chủ trương đầu tư cho 10 dự án; thẩm định trình duyệt dự án, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán cho 42 công trình, hạng mục công trình. Tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác thu hồi dư nợ ứng quá hạn (đạt 21,6 tỷ đồng), trình thẩm tra phê duyệt quyết toán được 40 dự án, gói thầu. Đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thi công một số công trình trọng điểm. Hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng 18 công trình, hạng mục công trình.

4. Đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất và phát triển nông thôn.

- Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn tiếp tục được chú trọng triển khai thực hiện; tích cực đồng hành, tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện dự án. Trong năm, có 16 dự án đầu tư vào sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản được cấp chủ trương đầu tư. Trên địa bản tỉnh hiện có 27 dự án đầu tư nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch; trong đó, có một số dự án đã đi vào sản xuất.

- Chủ động triển khai thực hiện Kế hoạch thực hiện phong trào thi đua "Đổi mới, phát triển các hợp tác xã nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã năm 2012 góp phần thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới". Thành lập mới 21 HTX, đến nay toàn tỉnh có 310 HTX nông nghiệp, trong đó 281 HTX đang hoạt động thực hiện theo Luật HTX 2012; có 356 trang trại đạt tiêu chí theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, tăng 114 trang trại so với năm 2016. Tham mưu công nhận 01 làng nghề, toàn tỉnh hiện có 73 làng nghề.

5. Công tác quản lý nhà nước các lĩnh vực chuyên ngành

- Chủ động bám sát các quy hoạch, kế hoạch ngành được phê duyệt để đôn đốc, hướng dẫn các địa phương tổ chức triển khai, cụ thể hóa đảm bảo định hướng, mục tiêu đề ra. Tiếp tục tham mưu xây dựng, hoàn thiện Quy hoạch điều chỉnh phòng chống lũ các tuyến sông có đê trên địa bàn tỉnh đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050; triển khai Phương án rà soát rừng phòng hộ ít xung yếu chuyển sang rừng sản xuất gắn điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng giai đoạn 2016 - 2025, định hướng đến năm 2030.

- Chủ động thực hiện các biện pháp phòng, trừ sâu bệnh trên cây trồng, tiếp tục nhân rộng mô hình tổ dịch vụ BVTV. Tăng cường phòng chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi, triển khai thực hiện có hiệu quả 02 đợt tiêm phòng và thực hiện tháng vệ sinh tiêu độc khử trùng môi trường chăn nuôi; công tác kiểm soát giết mổ được quan tâm, thu hút đầu tư 03 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm.

- Tăng cường công tác tuần tra bảo vệ, thừa hành pháp luật về rừng; đã phát hiện, xử lý kịp thời 195 vụ vi phạm pháp luật về rừng.

- Chủ động chỉ đạo điều tiết nguồn nước hợp lý, đảm bảo cấp đủ nước và tiêu úng kịp thời cho sản xuất. Theo dõi diễn biến thời tiết, tiếp nhận và truyền tải thông tin về dự báo, cảnh báo thiên tai đến các ngành, địa phương; trong năm đã xảy ra 13 đợt thiên tai (mưa, dông, lốc, sét và ảnh hưởng do xả lũ các hồ thủy điện) gây thiệt hại với giá trị ước tính khoảng 144 tỷ đồng.

- Thực hiện thanh tra, kiểm tra đối với 35 cơ sở; đánh giá phân loại định kỳ đối với 80 cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông lâm nghiệp và thủy sản; chú trọng quản lý cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ. Thanh, kiểm tra định kỳ điều kiện đảm bảo ATTP đối với 60 cơ sở sơ, chế biến nông lâm thủy sản. Tăng cường thực hiện công tác kiểm tra, lấy mẫu phân tích với tổng số 1.123 mẫu (tăng 308 mẫu so với năm 2016). Trú trọng hướng dẫn thực hiện và mở rộng việc áp dụng các quy trình sản xuất an toàn theo các tiêu chuẩn được chứng nhận.

6. Hoạt động sự nghiệp phát triển sản xuất:

- Công tác đào tạo, tập huấn, ứng dụng chuyển giao TBKT và nghiên cứu khoa học: Năm 2017 toàn tỉnh đã tổ chức đào tạo 3.915 người dân; công tác đào tạo nghề đã bám sát nhu cầu thực tế. Công tác chuyển giao, ứng dụng TBKT đã bám sát các hoạt động tái cơ cấu trong sản xuất; toàn ngành thực hiện đào tạo, tập huấn các tiến bộ kỹ thuật cho trên 18,5 nghìn lượt cán bộ và người dân. Mở rộng diện tích gieo cấy lúa áp dụng biện pháp thâm canh cải tiến (SRI), gieo sạ, mạ ném... chiếm trên 60% diện tích gieo cấy;  Diện tích sản xuất rau, hoa trong nhà lưới, nhà màng ngày càng được mở rộng; triển khai các mô hình tưới tiết kiệm, tưới cây vùng đồi cho chè, cây ăn quả có múi, mô hình nuôi cá sông trong ao; hỗ trợ xây dựng 2,6 nghìn hầm Biogas để xử lý môi trường trong chăn nuôi. Tổ chức thực hiện 06 đề tài nghiên cứu khoa học, đã hoàn thành và nghiệm thu 04 đề tài.

- Thông tin tuyên truyền phục vụ sản xuất và xúc tiến thương mại, phát triển thương hiệu nông sản: Chủ động xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch thông tin tuyên truyền của toàn ngành, đã thực hiện 234 chuyên mục, tin bài tuyên truyền trên đài truyền hình, báo, website Sở, phát hành 10 nghìn bản hướng dẫn cơ cấu giống và thời vụ; 42 nghìn tờ rơi tuyên truyền về ATTP nông lâm thuỷ sản; 6 nghìn cuốn Bản tin Nông nghiệp nông thôn Phú Thọ... Hoạt động xúc tiến thương mại và phát triển thương hiệu nông, lâm thủy sản ngày càng được quan tâm; bước đầu hình thành và phát triển hình thức liên kết sản xuất, cung ứng thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn theo chuỗi giá trị. Chú trọng quản lý chất lượng, phát triển thương hiệu nông sản, đã hỗ trợ 440 nghìn tem điện tử truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm Bưởi Đoan Hùng, thịt chua Thanh Sơn, rau an toàn Tứ Xã

- Các đơn vị sự nghiệp đã sản xuất, cung ứng 6,21 triệu cá giống các loại, 1.250 con lợn giống bố mẹ, 42,3 nghìn liều tinh lợn, 40,3 nghìn con gà giống; tổ chức cung ứng 8 nghìn liều tinh bò chất lượng cao. Tập trung triển khai chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp; phối hợp với Sở Tài chính thẩm định, trình UBND tỉnh cấp kinh phí hỗ trợ cho các địa phương.

7. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước

- Công tác tham mưu, chỉ đạo thực hiện: Căn cứ các Quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch nhà nước năm 2017, Sở Nông nghiệp và PTNT đã chủ động giao chỉ tiêu kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các phòng, ban, đơn vị trực thuộc. Chủ động triển khai các chương trình, Nghị quyết của Chính phủ, bộ ngành trung ương. Tham mưu và thực hiện các nội dung chương trình công tác với Tỉnh ủy, UBND tỉnh đảm bảo tiến độ và chất lượng.

- Kiện toàn tổ chức bộ máy và cải cách thủ tục hành chính: Xây dựng Đề án “Kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Phú Thọ” trình cấp có thẩm quyền. Tham mưu xây dựng Đề án sắp xếp tổ chức lại, các đơn vị sự nghiệp thuộc các lĩnh vực nông nghiệp và PTNT. Chủ động thực hiện việc tinh giảm biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014. Tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh ban hành, công bố thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực nông nghiệp và PTNT với tổng số 129 thủ tục hành chính; trong năm, đã tiếp nhận, xử lý giải quyết 4.664 bộ hồ sơ, không có hồ sơ quá hạn. 

-  Hoạt động thanh, kiểm tra chuyên ngành; thực hiện tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo: Trong năm toàn ngành đã thực hiện 27 cuộc thanh, kiểm tra hành chính, chuyên ngành; kiểm tra theo thông tư số 45/2014/TTBNNPTNT và 03 đợt kiểm tra liên ngành đối với 341 cơ sở; qua thanh, kiểm tra đã phát hiện và xử lý 27 trường hợp vi phạm. Tiếp nhận và giải quyết 28 đơn kiến nghị, phản ánh của công dân.

Đánh giá chung: Năm 2017, mặc dù sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn song với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân đã đạt được những kết quả khá quan trọng: Cơ cấu lại sản xuất trên cơ sở khai thác lợi thế và phát triển các cây trồng, vật nuôi chủ lực gắn với xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ và có nhiều tín hiệu tích cực; sản lượng hầu hết của các cây trồng, vật nuôi đều cao hơn so với cùng kỳ, vượt kế hoạch đề ra; tốc độ tăng trưởng đạt 3,74% (vượt kế hoạch đề ra và cao hơn bình quân chung cả nước). Công tác tham mưu, chỉ đạo đã bám sát điều kiện thực tế, kịp thời xử lý các sự cố do thiên tai gây ra, khôi phục sản xuất và ổn định đời sống của người dân. Chú trọng chỉ đạo thực hiện đổi mới tổ chức sản xuất của kinh tế tập thể; tích cực thu hút Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Công tác quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp và vệ sinh an toàn thực phẩm trong nông nghiệp được triển khai mạnh mẽ. Bước đầu hình thành và phát triển hình thức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị trên rau, quả, chè, thịt. Quyết liệt chỉ đạo xử lý các tồn tại kéo dài trong công tác hoàn ứng vốn và quyết toán dự án quá hạn; đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm. Xây dựng nông thôn mới đạt được những kết quả quan trọng, làm thay đổi bộ mặt nhiều vùng nông thôn và cải thiện điều kiện sống của người dân.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vần còn những  tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới: Công tác chỉ đạo sản xuất, tổ chức triển khai thực hiện các Quy hoạch, Kế hoạch, cơ chế hỗ trợ sản xuất giai đoạn 2016 - 2020 một số nơi chưa thực sự quyết liệt, chưa phát huy lợi thế, thế mạnh của địa phương. Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ lẻ còn phổ biến. Gắn kết giữa sản xuất, tiêu thụ và chế biến còn chưa cao; hiệu quả khâu tiêu thụ nông sản và công tác phát triển thương hiệu sản phẩm chè còn hạn chế. Vai trò của kinh tế tập thể chưa rõ nét, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn còn khó khăn. Chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học, nông nghiệp công nghệ cao còn hạn chế; công tác quản lý chất lượng nông sản đặc biệt ở các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ vẫn còn có vi phạm. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất còn thiếu đồng bộ, đặc biệt là thủy lợi và giao thông nông thôn. Tiến độ thi công, thực hiện thủ tục đầu tư, hoàn ứng vốn đầu tư một số công trình, dự án còn chậm. Kết quả xây dựng nông thôn mới không đồng đều ở các địa phương; việc tuyên truyền, nhân rộng các cách làm hay trong xây dựng NTM còn chưa nhiều.

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:

- Nguyên nhân khách quan: Tình hình thời tiết diễn biến phức tạp. Nguồn lực đầu tư từ ngân sách Nhà nước còn hạn chế, kinh tế của tỉnh, địa phương, người dân còn khó khăn. Đất đai manh mún, chia cắt, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng cao; mặt khác nông dân có tư tưởng giữ đất, không bán, không cho thuê nên khó khăn trong thu hút doanh nghiệp sản xuất hàng hóa lớn. Tập quán, tâm lý, trình độ và khả năng đầu tư của nông dân còn hạn chế, một bộ phận nông dân không thiết tha với đồng ruộng.

- Nguyên nhân chủ quan: Công tác tham mưu, chỉ đạo của Sở có lúc, có việc chưa sát sao, cụ thế; chưa tạo được những đột phá trong chỉ đạo sản xuất theo chuỗi sản phẩm hàng hóa nông sản chất lượng, an toàn và hiệu quả. Một số địa phương, chính quyền chưa quan tâm đầy đủ, thiếu cụ thể; việc tháo gỡ những nút thắt, khó khăn chưa kịp thời. Một số cơ sở và một bộ phận người dân còn có tư tưởng trông chờ, ỷ nại vào sự hỗ trợ của nhà nước. Thu hút đầu tư vào nông nghiệp, xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản còn khó khăn. Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực chưa đáp ứng được yêu cầu; trang thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra chuyên ngành còn thiếu.

II. TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH NĂM 2018.

1. Dự báo tình hình:

* Thuận lợi: Kinh tế trong nước tiếp tục đà tăng trưởng. Lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Trung ương, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sẽ có nhiều quyết sách, giải pháp tạo thuận lợi hơn về phát triển nông nghiệp, nông thôn được ban hành. Thu hút đầu tư vào nông nghiệp có tín hiệu tốt. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi. Các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp liên kết theo chuỗi giá trị trên địa bàn tỉnh đang dần hình thành và phát triển.

* Khó khăn: Biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp; dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát. Những yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm ngày càng cao, trong khi những tồn tại, hạn chế trong nội tại của ngành chưa thể khắc phục ngay được; hội nhập quốc tế làm gia sức ép lên sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Những khó khăn do thua lỗ từ hoạt động chăn nuôi tiếp tục hạn chế khả năng đầu tư thâm canh. Cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn thiếu đồng bộ, nguồn vốn đầu tư công còn thiếu so với nhu cầu.

2. Mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu:

1. Mục tiêu tổng quát: Duy trì tốc độ tăng trưởng trên cơ sở phát huy các tiềm năng, lợi thế sẵn có. Nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, tăng giá trị và khả năng cạnh tranh thông qua liên kết sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, làm tốt công tác kiểm soát an toàn sản phẩm để tăng năng suất, chất lượng và xây dựng thương hiệu; tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa chất lượng cao, mang tính đặc trưng, lợi thế của tỉnh và địa phương góp phần nâng cao thu nhập, đời sống nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu.

          - Giá trị tăng thêm nông, lâm nghiệp - thuỷ sản tăng 3% so với năm 2017.

          - Trồng trọt: Sản lượng lương thực phấn đấu đạt 456,4 nghìn tấn; diện tích lúa 66,7 nghìn ha, ngô 17,3 nghìn ha. Phấn đấu sản lượng chè búp tươi 171 nghìn tấn; sản lượng bưởi Đoan Hùng, Bưởi Diễn 22,9 nghìn tấn.

          - Chăn nuôi: Tổng đàn trâu 69 nghìn con; đàn bò 123,5 nghìn con; đàn lợn 800 nghìn con; đàn gia cầm 13,3 triệu con. Sản lượng thịt hơi các loại 160 nghìn tấn.

- Thủy sản: Tổng diện tích nuôi thủy sản 10,2 nghìn ha; tổng sản lượng thuỷ sản đạt 36,88 nghìn tấn.

- Lâm nghiệp: Trồng rừng tập trung 10,6 nghìn ha; trồng cây phân tán 870 nghìn cây; chăm sóc rừng 31,4 nghìn ha; khoán bảo vệ rừng 38,5 nghìn ha. Độ che phủ rừng đạt 39,5%.

- Xây dựng nông thôn mới: Phấn đấu hết năm 2018, toàn tỉnh có thêm ít nhất 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới; thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; 100% các xã thuộc huyện Thanh Thủy đều đạt chuẩn nông thôn mới, tiến tới công nhận huyện Thanh Thủy đạt nông thôn mới. Bình quân tiêu chí đạt 14,2 tiêu chí/xã.

- Tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 96%.

          3. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:      

3.1. Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại sản xuất nông, lâm, thủy sản phát triển toàn diện, có giá trị gia tăng cao.

          a. Nông nghiệp: Tập trung chỉ đạo sản xuất theo chương trình, đề án, dự án cụ thể, chú trọng phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn đối với các cây trồng, vật nuôi có lợi thế; tổ chức sản xuất theo hướng liên kết chặt chẽ giữa các khâu trong chuỗi giá trị; khuyến khích phát triển nông nghiệp an toàn, bền vững.

* Trồng trọt - Bảo vệ thực vật: Tập trung hướng dẫn chỉ đạo thực hiện tốt cơ cấu mùa vụ; duy trì tỷ lệ lúa lai cả năm đạt khoảng 46%, mở rộng diện tích lúa chất lượng cao chiếm 33% tổng diện tích. Nhân rộng mô hình chuỗi sản xuất, tiêu thụ chè an toàn gắn với xây dựng thương hiệu; trồng lại 240 ha bằng các giống mới có năng suất, chất lượng cao. Mở rộng diện tích trồng mới tập trung 554 ha bưởi Đoan Hùng và bưởi Diễn; tăng cường quản lý thương hiệu Bưởi Đoan Hùng, dãn nhãn và tổ chức các hoạt động giới thiệu và quảng bá sản phẩm. Xây dựng và nhân rộng các mô hình tổ dịch vụ bảo vệ thực vật và tăng cường giám sát, dự báo, phòng trừ hiệu quả sâu bệnh trên cây trồng, đảm bảo an toàn cho sản xuất.

          * Chăn nuôi - Thú y: Chủ động chỉ đạo, hướng dẫn phát triển chăn nuôi phù hợp quy hoạch và tín hiệu thị trường; thu hút doanh nghiệp đầu tư phát triển chăn nuôi gắn với giết mổ và chế biến; khuyến khích chuyển đổi các hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung liên kết theo chuỗi giá trị. Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng đàn bò, đàn lợn. Thực hiện tốt công tác giám sát, kiểm soát tình hình dịch bệnh, đảm bảo an toàn cho sản xuất.

          b. Thuỷ sản: Chỉ đạo phát triển đa dạng các loại hình nuôi, mở rộng diện tích nuôi thâm canh, nuôi thâm canh cá lồng có kiểm soát; mở rộng diện tích nuôi các loại thủy sản giống mới, đặc sản. Khuyến khích phát triển mô hình liên kết theo chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu thủy sản.

c. Lâm nghiệp: Đẩy mạnh chăm sóc rừng trồng có thâm canh, trồng, chuyển hóa rừng gỗ lớn. Tăng cường quản lý khai thác và sử dụng bền vững 3 loại rừng; làm tốt công tác quản lý bảo vệ, phòng chống cháy, chữa cháy rừng; thực hiện có hiệu quả chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng. Nhân rộng các mô hình sản xuất lâm nghiệp đa chức năng, kết hợp trồng cây dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, chăn nuôi dưới tán rừng, để nâng cao đời sống, thu nhập từ kinh tế rừng.

3.2. Xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống của người dân: Triển khai mạnh mẽ, đồng bộ nhiệm vụ, mục tiêu Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động tại cơ sở. Chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng và công nhận các khu dân cư đạt chuẩn nông thôn mới. Chú trọng hỗ trợ phát triển sản xuất, gắn hỗ trợ phát triển nông nghiệp với phát triển công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân nông thôn.

3.3. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn: Tiếp tục tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA, chú trọng gắn kết, xã hội hóa các nguồn lực đầu tư thực hiện khâu đột phá về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ gắn với xây dựng nông thôn mới, ưu tiên đầu tư các công trình hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất. Tập trung chỉ đạo quyết liệt thanh toán vốn đầu tư và quyết toán công trình hoàn thành; xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản theo lộ trình quy định tại Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

3.4. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất: với trọng tâm là tạo điều kiện thuận lợi để phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã trở thành đầu mối liên kết với kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị. Tiếp tục nhân rộng các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả,, mỗi địa phương tập trung hỗ trợ phát triển một số mô hình tổ chức sản xuất hiểu quả, điển hình để khuyến khích phát triển, nhân rộng. Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện hiệu quả chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (OCOP). Tích cực tham mưu chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ dồn đổi, tích tụ đất đai, phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

3.5. Tăng cường công tác quản lý nhà nước các lĩnh vực chuyên ngành: Chủ động cụ thể hóa và tham mưu các văn bản chỉ đạo của Bộ ngành Trung ương, Tỉnh ủy, UBND tỉnh. Rà soát các quy hoạch, kế hoạch, các cơ chế chính sách đã ban hành, kịp thời tham mưu điều chỉnh cho phù hợp. Tham mưu thực hiện tốt các chương trình công tác của Tỉnh ủy, UBND tỉnh. Tăng cường công tác quản lý nhà nước toàn diện đáp ứng nhu cầu sản xuất.

         3.6. Nâng cao chất lượng các hoạt động sự nghiệp phát triển sản xuất: Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tích cực chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Phát huy vai trò, trách nhiệm của hệ thống khuyến nông từ tỉnh đến cơ sở; chú trọng đổi mới cả nội dung và phương thức khuyến nông. Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại. Tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển các thương hiệu, nâng cao chất lượng, mẫu mã, bao bì sản phẩm chè Phú Thọ, bưởi Đoan Hùng. Từng bước làm tốt công tác tiếp cận, năm bắt và dự báo nhu cầu thị trường.

3.7. Tiếp tục thực hiện công tác cải cách hành chính toàn diện: rà soát, kiến nghị sửa đổi, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện nhiệm vụ. Kiện toàn tổ chức, bộ máy của Sở Nông nghiệp và PTNT. Phát huy tính chủ động, tinh thần trách nhiệm của đơn vị, cá nhân và người đứng đầu, nâng cao đạo đức công vụ.

3.8. Phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong chỉ đạo sản xuất đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2018; bám sát cơ sở để nắm bắt những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới phát sinh, kịp thời có biện pháp tháo gỡ. Triển khai có hiệu quả các chương trình phối hợp đã ký kết với các tổ chức chính trị, xã hội trong thực hiện nhiệm vụ.

4. Kiến nghị, đề xuất: Để giúp ngành hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2018, Sở Nông nghiệp và PTNT kính đề nghị Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh:

- UBND tỉnh tiếp tục có ý kiến đề nghị Bộ Công Thương chỉ đạo Tổng Công ty Giấy Việt Nam thực hiện các thủ tục để bàn giao lại cho tỉnh quản lý 1,4 nghìn ha theo kết luận chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và giải thể 02 Công ty lâm nghiệp (Sông Thao và Thanh Hòa) theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ, bàn giao lại 1.845,3 ha đất hiện có của hai công ty cho tỉnh quản lý.

- Tiếp tục quan tâm, ban hành các văn bản chỉ đạo sản xuất để huy động cả hệ thống chính trị trong toàn tỉnh chủ động, tích cực hơn nữa trong công tác chỉ đạo, dịch vụ cho sản xuất.

- Ưu tiên bố trí vốn cho các công trình hoàn thành còn thiếu vốn, vốn đối ứng cho các dự án ODA theo cam kết với nhà tài trợ, vốn xử lý các công trình khắc phục hậu quả thiên tai. Tăng nguồn kinh phí cho các hoạt động sự nghiệp phù hợp trong giai đoạn mới.

- Chỉ đạo các Sở, ngành liên quan các huyện, thành, thị: Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Sở Nông nghiệp và PTNT trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện Kế hoạch này. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dồn đổi, tích tụ đất nông nghiệp. Tổ chức triển khai các cơ chế hỗ trợ sản xuất. Quản lý chất lượng, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu nông sản. Tháo gỡ các khó khăn trong thu hút đầu tư và bố trí nguồn lực phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, phát triển hạ tầng nông thôn.

Trên đây là báo cáo tổng kết nhiệm vụ công tác năm 2017 và triển khai kế hoạch năm 2018, Sở Nông nghiệp và PTNT trân trọng báo cáo./.

 

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT.

 



([1]) Bình quân chung cả nước tăng 2,9%.

 ([2]) tổng đàn trâu 66,9 nghìn con, đạt 94,8% KH năm, giảm 5,4% so với cùng kỳ; tổng đàn bò 123,04 nghìn con, đạt 112,9% KH năm, tăng 1,2% so với cùng kỳ; tổng đàn lợn 798,9 nghìn con, đạt 92,4% KH năm, giảm 17,4% so với cùng kỳ; tổng đàn gia cầm 13,3 triệu con, đạt 108% KH, tăng 6,1% so với cùng kỳ.

([3]) Trong đó, bị thiệt hại lớn nhất là trên 500 tấn thủy sản do xả lũ các hồ thủy điện trong trung tuần tháng 7.

 ([4]) Đến hết năm 2017 toàn tỉnh có 60 xã và huyện Lâm Thao đạt chuẩn NTM; bình quân đạt 13,5 tiêu chí/xã, không có xã dưới 5 tiêu chí (Cả nước: có 2.884 xã và 43 huyện đạt chuẩn NTM; trung bình 13,7 tiêu chí/xã, còn 176 xã dưới 5 tiêu chí).